1.Yêu cầu cài đặt
- Redhat 7.2, 7.3, 8.0, 9.0, Fedora, CentOS.
- External IP address
- Kiểm tra thông tin về license tại đây
https://www.directadmin.com/clients
Kiểm tra IP và hệ điều hành đúng chưa.
License đã được active chưa?
1.Yêu cầu cài đặt
- Redhat 7.2, 7.3, 8.0, 9.0, Fedora, CentOS.
- External IP address
- Kiểm tra thông tin về license tại đây
https://www.directadmin.com/clients
Kiểm tra IP và hệ điều hành đúng chưa.
License đã được active chưa?
7. Kiểm soát hành vi hệ thống, phần cứng và thông tin hệ thống trong Linux
Với nhiều người dùng Linux, kiểm soát hệ thống là một tác vụ phức tạp. Hầu hết các bản phân phối Linux tích hợp khá nhiều công cụ kiểm soát. Những công cụ kiểm soát này cung cấp các phương pháp có thể được áp dụng để kiểm tra thông tin hành vi hệ thống. Việc kiểm soát hệ thống cho phép người dùng theo dõi nguyên nhân khả năng thực thi của hệ thống bị cản trở. Một trong những tác vụ cần thiết của quá trình kiểm soát hệ thống là tra cứu thông tin về hành vi hệ thống, phần cứng và thông tin bộ nhớ. Có một lệnh đơn giản giúp hiển thị thông tin về tiến trình, bộ nhớ, trang ghi, nhóm IO, lỗi và hành vi CPU đó là lệnh vmstat.
Bạn chỉ cần nhập lệnh sau vào cửa sổ terminal:
3. Theo dõi Average CPU Load và Disk Activity
Nếu là một quản trị viên hệ thống Linux, bạn cần phải biết phương pháp duy trì một sự cân bằng hợp lý trong quá trình tải đầu vào và đầu ra giữa các ổ đĩa vật lý. Bạn có thể thay đổi cấu hình hệ thống để thực hiện tác vụ này. Tuy nhiên có một phương pháp đơn giản hơn rất nhiều đó là sử dụng lệnh isostat để quản lý hệ thống thiết bị tải đầu vào và đầu ra trong Linux bằng cách theo dõi thời gian hoạt động và tốc độ truyền trung bình của những thiết bị này. Lệnh này sẽ thông báo thông tin của CPU (Central Processing Unit), thông tin đầu vào và đầu ra cho những thiết bị, phân vùng và hệ thống file mạng (NFS).
Khi chạy lệnh isostat thông tin kết xuất có dạng:
Khi “kết thân” với Linux, nếu không nắm được một số câu lệnh cần thiết thì công việc quản trị của bạn sẽ gặp không ít khó khăn. Dưới đây là một số lệnh Linux cơ bản giúp cho việc quản trị của bạn dễ dàng hơn rất nhiều.
1. Hiển thị tiến trình trong hệ thống Linux
Một trong những công việc cần thiết khi quản trị hệ thống Linux đó là kiểm soát các tiến trình hiện đang chạy. Khi đã biết được những tiến trình nào đang chạy bạn có thể tắt những tiến trình gây giảm tốc độ của hệ thống. Ngoài ra, thông tin về những tiến trình hệ thống cho chúng ta biết nên tắt nhưng tiến trình làm cho hệ thống vận hành không ổn định. Do đó việc biết được những tiến trình nào đang chạy trên hệ thống rất quan trọng. Linux hỗ trợ nhiều phương pháp kiểm tra tiến trình, một trong số đó là sử dụng lệnh ps. Khi sử dụng lệnh này mọi thông tin về những tiến trình đang chạy sẽ được hiển thị. Bạn chỉ cần nhập cú pháp lệnh sau vào cửa sổ terminal:
Hệ điều hành Unix và Linux phân quyền truy cập vào file và thư mục bằng cách sử dụng ba tham biến truy cập là read (đọc), write (ghi) và execute (chạy) để phân quyền cho ba nhóm đối tượng, gồm: chủ hệ thống, nhóm quản trị và người dùng.
Nếu liệt kê chi tiết các thuộc tính của một file bằng lệnh ls với khóa chuyển đổi -l (ví dụ ls –l [tên file]), thì lệnh này sẽ trả về thông tin có dạng -rwe-rw-r- (nghĩa là phân quyền read, write và execute cho chủ hệ thống; phân quyền read và write cho nhóm quản trị; và chỉ phân quyền read cho các đối tượng người dùng khác).
Đọc tiếp »
Bạn có một USB và không biết làm cách nào để format và mount nó trong Linux. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn thực hiện điều đó.
Điều đần tiên bạn cần làm là tìm kiếm nơi mà ổ đĩa được mount. Để thực hiện điều này chúng ta chạy câu lệnh sau:
# vi -F /var/log/messages
Khi bạn cắm một ổ đĩa vào trong máy tính, có một thông điệp hiện ra nói rằng ổ đĩa này sẵn có tại /dev/sdc1. Vì vậy bước tiếp theo là format ổ đĩa đó. Có một số định dạng ổ đĩa có thể được đọc và ghi bởi Linux, nhưng với Windows thì có nhiều rắc rối hơn. Vì vậy chúng ta nên sử dụng định dạng ổ đĩa mà có thể làm việc tốt với cả hai hệ thống này. Ở đây chúng ta sẽ dùng FAT. Để định dạng ổ đĩa thành FAT chúng ta chạy câu lệnh sau:
Đọc tiếp »
|
Bất kì ai đã làm việc với một máy chủ Linux ở xa sử dụng SSH đều phải đối mặt với vấn đề SSH session bị ngắt kết nối khi không ngồi trên máy tính. Có một giải pháp giúp chúng ta cấu hình SSH daemon trên máy chủ Linux để ngưng việc nó ngắt kết nối. Nếu bạn rời khỏi kết nối SSH và không dùng nó trong một khoảng thời gian, máy chủ SSH sẽ đi vào trạng thái nhàn rỗi và sẽ kết thúc session (phiên làm việc). Đây thực sự là một vấn đề bảo mật, nhưng thỉnh thỉnh nó có thể gây ra một sự khó chịu cho bạn. |
I. Lệnh tiện ích
1. Tạo lệnh alias:
Cú pháp: alias <tên lệnh alias> <lệnh>
Ví dụ: Để tạo lệnh dir tương tự khi gọi lệnh ls –l thì gõ lệnh như sau: alias dir ls –l.
2. Lệnh tìm kiếm grep:
Cú pháp: grep [-viw] <mẫu> <file(s)>
Lệnh này sẽ thực hiện tìm kiếm mẫu trong một hay nhiều file. Mỗi dòng của file có chứa mẫu sẽ được hiển thị ra thiết bị đầu cuối. Trong đó tham số -v có nghĩa là sẽ tìm những dòng không có mẫu, -w có nghĩa là tìm kiếm một từ trọn vẹn, -i là để bỏ qua sự phân biệt giữa ký tự hoa và ký tự thường.
I. Hệ Thống File.
1. Hệ thống file:
Mỗi hệ điều hành đều có cách tổ chức lưu trữ dữ liệu riêng. Ở mức vật lý, đĩa cứng được định dạng thành các cung từ bao gồm sector, track, cylinder (chức năng này thường format cấp thấp thực hiện). Tuy nhiên ở mức độ lôgic, các hệ điều hành thường sắp sếp tổ chức lưu trữ dữ liệu theo chỉ mục và phân cấp sao cho quá trình sao lưu, tìm kiếm dữ liệu là hiệu quả nhất.
Linux sử dụng hệ thống ext2 (hoặc ext3) để lưu trữ dữ liệu và tên file, thư mục.
* Ext2 sử dụng một bảng i-node bao gồm một tập các nút để lưu trữ thông tin và tên file, thư mục. Mỗi file hay thư mục đều được tham chiếu hay trỏ đến bởi một i-node. Dữ liệu của file được ghi thành từng khối liền nhau. Hệ thống ext2 đảm bảo cơ chế lưu trữ tối ưu và khiến cho dữ liệu trên đĩa cứng không bị phân mảnh.
I. Giới thiệu hệ thống X-Window
- Hệ thống X-Window là gói phần mềm quan trọng nhất của Linux, Nó cung cấp một lượng lớn tuỳ chọn cho cả nhà phát triển phần mềm lẫn người sử dụng.
- X được phát triển bởi dự án Athena tại MIT (Massachusetts Instite of Technology) và Digital Equipment Coporation. Phiên bản hiện thời của X là 11 bản (X11R6).
- Hiện tại, X được phát triển và phân khối bởi tổ chức mã nguồn mở (Open Group), một tổ chức kết hợp từ nhiều hãng máy tính lớn.
Phiên bản X thông dụng nhất trên Linux là XFree86.
I. Text Editor
Phần mềm soạn thảo văn bản đơn giản (tương tự như Notpad trên MS-Windows).
Text Editor là một trong các phần mềm soạn thảo văn bản đơn giản trên Linux.
Text Editor được cài đặt mặc định trong bộ RedHat Enterprise Linux A.S.
Để kích hoạt Text Editor, tiến hành như sau: Application -> Accessries -> Text Editor.
chức năng và cách sử dụng các nút bấm của Text Editor tương tự như Notped trên MS-Windows.
Với Text Editor bạn có thể soạn thảo nội dung của một file text, lưu file vào nơi thích hợp, mở và hiệu chỉnh lại nội dung của một file text có sẵn..
Hơn nữa, với một file có cấu trúc như .html, .htm, file xml…
Text Editor còn có thể dùng màu sắc để thể hiện cấu trúc của các file này.
Đọc tiếp »
I. Yêu Cầu Phần Cứng
• CPU: Pentium MMX trở lên.
• Ram 32 MB.
• Ổ cứng > 2GB.
• Card đồ hoạ >2M.
II.Phân Vùng Đĩa Trong Linux
Khi cài đặt trong Linux bắt buộc phải có tối thiểu 2 Partition sau:
• Partition chính chứa thư mục gốc (/) và hạt nhân (gọi là Linux Neteve Partition).
• Partition Swap được dùng làm không gian hoán đổi dữ liệu khi vùng nhớ chính đầy. Thông thường kích thước nó bằng kích thước bộ nhớ chính.
I. Giới Thiệu Về Hệ Điều Hành Linux
Linux là hệ điều hành dạng UNIX ( Unix-like Operating System) chạy trên máy PC với bộ điều khiển trung tâm (CPU) Intel 80386 hoặc các thế hệ sau đó, hay các bộ vi xử lý trung tâm tương thích như AMD, Cyrix. Linux ngàyy nay còn có thể chạy trên các máy Macsintosh hoặc Sun Sparc. linux thoả mãn chuẩn POSIX.1.
Linux được viết lại toàn bộ như con số không, tức là không sử dụng một dòng lệnh nào của Unix, để tránh vấn đề bản quyền của Linux, tuy nhiên hoạt động của Linux hoàn toàn dựa trên nguyên tắc của hệ điều hành Unix. Vì vậy một người nắm được Linux thì sẽ nắm được Unix. Nên chú ý rằng giữa các Unix sự khác nhau cũng không kém gì Unix và Linux.
Năm 1991 Linus Tovalds, sinh viên của đại học tổng hợp Helsinki (Phần Lan), bắt đầu xem xét Minix, một phiên bản của Unix, làm ra với mục đích nghiên cứu cách tạo ra một hệ điều hành Unix chạy trên máy PC với bộ vi xủ lý intel 80368.
Ngày 25/8/1991, Linus cho ra version 0.01 và thông báo trên comp.os.minix của Internet về chương trình của mình.
1/1992, Linus cho ra version 0.12 với Shell và C compilre. Linus không cần Minix nữa để biên dịch lại hệ điều hành của mình. Linus đặt tên hệ điều hành
của mình là Linux.
Nhiều người mới dùng Linux không biết rằng cả rpm và apt (hay dkpg) đều theo dõi mọi phần mềm được cài đặt trên hệ thống. Tuy nhiên, những hệ thống này (rpm, apt và dkpg) chỉ có thể theo dõi những phần mềm mà chúng cài đặt. Vì vậy khi bạn thấy một phần mềm không rõ ràng chỉ được lưu ở nguồn và bạn tự hiệu chỉnh nó thì hệ thống quản lý phần mềm sẽ không theo dõi được nó. Thay vào đó, bạn chỉ cần tạo một file .rpm hay .deb từ nguồn và cài đặt với hệ thống quản lý phần mềm, hệ thống có thể theo dõi mọi phần mềm được cài đặt.
Đọc tiếp »
| Đôi khi bạn muốn xem lại mật khẩu của một diễn đàn nào đó bạn đã lưu trong các trình duyệt khi sử dụng chức năng ghi nhớ (Remember me on this computer). Sau đây tôi xin giới thiệu mẹo nhỏ để làm việc này trên các trình duyệt phổ biến như Firefox, Internet Explorer, Opera, |
| Để xem được mật khẩu được nhập vào hoặc lưu tại ô nhập mật khẩu bạn sao chép đoạn mã Javascrip sau rồi chép nó vào thanh địa chỉ của trình duyệt, bạn sẽ có được cái bạn cần. |